Phân tích truyện Hai đứa trẻ của Thạch Lam – Văn mẫu hay lớp 11

Phân tích truyện Hai đứa trẻ của Thạch Lam – Bài làm 1 của một học sinh giỏi Văn tỉnh An Giang

Truyện của Thạch Lam không có chuyện. Truyện “Hai đứa trẻ” cũng vậy. Chỉ có hai đứa trẻ từ Hà Nội chuyển về một phố huyện nghèo, trông coi một cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu. Chiều, hai chị em ngồi trên chiếc chõng tre ngắm cảnh phố xá lúc hoàng hôn, rồi đêm đến, tuy đã buồn ngủ ríu cả mắt, hai chị em vẫn cố thức để đợi xem chuyến tàu đêm từ Hà Nội chạy qua rồi mới khép cửa hàng đi ngủ. Thạch Lam muốn tránh lối viết tầm thường là hấp dẫn người đọc bằng cốt truyện li kì, những tình tiết éo le, những cuộc tình mùi mẫn, hoặc là những xung đột gay cấn hồi hộp. “Hai đứa trẻ” hấp dẫn người đọc bằng chất liệu thật của đời sống. Cách lựa chọn chất liệu này gần với Nam Cao, Nguyên Hồng, Tô Hoài (các nhà văn hiện thực giàu tính nhân đạo), lại kích thích người đọc bằng những ước mơ, hoài bão tốt đẹp. Tinh thần lãng mạn ấy gắn với các nhà văn Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo. Thạch Lam có một lối văn nhẹ như cánh bướm đậu trên hoa. Bức tranh bằng ngôn ngữ của ông có thể ví với tranh lụa chứ không phải sơn dầu. Thạch Lam trước sau vẫn là một nhà văn lãng mạn. lãng mạn tích cực, đẹp.

Loading...

Trong “Hai đứa trẻ” chất lãng mạn và hiện thực hòa quyện với nhau hiện ra trong bức tranh thiên nhiên của một vùng quê vào một buổi chiều ả. Rồi màn đêm dần dần buông xuống “Một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát…” thiên nhiên thì cao rộng thì cao rộng và thơ mộng. “Phương Tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn”. Nhưng làng quê thì đầy bóng tối, thảm hại. “Trong cửa hàng hơi tối, muỗi đã bắt đầu vo ve”. “Đôi mắt Liên, bóng tối ngập đầy dần”. “Chỉ thấy lòng buồn man mác trước giờ khắc của ngày tàn”. Chính bức tranh đời sống rất mực chân thật vừa thấm đượm cảm xúc chữ tình này đã gây nên cảm giác buồn thương day cho người đọc. Ý nghĩa tư tưởng của truyện chủ yếu toát ra từ bức tranh đời sống phố huyện nghèo.

Dưới mắt của hai đứa trẻ, cảnh phố huyện hiện lên thật là cụ thể, sinh động, gợi cảm. Đó là cảnh bãi chợ trống trải, vắng vẻ khi buổi chợ đã vãn từ lâu. “Người về hết và tiếng ồn ào cũng mất”. Cảnh chợ tàn phơi bày sự nghèo nàn, xơ xác của đời sống phố huyện. Ống kính cần mẫn của nhà văn lia qua phố huyện: trên đất chỉ còn “rác rưởi, bỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía”. Cảnh còn được miêu tả bởi khứu giác tinh tế của nhà văn “một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn mùi cát bụi quen thuộc quá, khiến chị em liên tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này”. Bức tranh phố huyện trong “Hai đứa trẻ” đầy sức ám ảnh là vì những màu sắc và hương vị như thế.

Trong khung cảnh tiêu điều, buồn bã đó, hình ảnh những con người nghèo khổ, lam lũ, nhếch nhác của phố huyện hiện dần ra. Những đứa trẻ đi nhặt nhạnh những thứ rơi vãi ở bãi chợ. Mẹ con chị Tí lễ mễ đội chõng xách điếu đóm ra dọn hàng, “ngày, chị đi mò cua bắt tép; tối đến chị mới dọn cái hàng nước này…”. Gia đình bác Xẩm ngồi trên manh chiếu, cái thau sắt trắng để ở trước mặt”. Thằng con bò ra đất nghịch nhặt rác bẩn bên đường. Và hai chị em Liên với cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu mẹ Liên dọn ngay từ khi cả nhà bỏ Hà Nội về quê vì thầy Liên mất việc. Bà cụ Thi điên điên tàng tàng mua rượu uống và cười “khanh khách” lảo đảo đi vào bóng tối. Tất cả đều là những kiếp sống lầm than, cực khổ, tàn tạ. Qua con mắt của bé Liên, tất cả cuộc sống chìm trong đêm tối mênh mông, chỉ còn ngọn đèn của chị Tí, cái bếp lửa của bác Xiêu, ngọn đèn Hoa Kỳ vặn nhỏ của Liên… tức chỉ là mấy đốm sáng tù mù, những đốm lửa nhỏ nhoi ấy chẳng làm cho phố huyện sáng sủa mà chỉ càng khiến cho đêm tối mịt mù dầy đặc mà thôi. “Tất cả phố xá trong huyện bây giờ thu nhỏ lại nơi hàng nước của chị Tí”. Hình ảnh ngọn đèn con nơi hàng nước của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ ấy trở đi trở lại tới bẩy lần trong huyện là hình ảnh đầy ám ảnh và có sức gợi rất nhiều về những kiếp sống nhỏ nhoi, lay lắt, mù tối trong đêm đen mênh mông của cuộc đời.

Cảnh phố huyện lúc chiều tối như một khúc nhạc buồn mà điệp khúc cứ lặp lại.

Chiều tối nào mẹ con chị Tí cũng lễ mễ dọn hàng, chị em Liên lại kiểm hàng rồi tính tiền, rồi ngồi trên chõng tre ngắm cảnh. Bác phở Siêu lại gánh hàng và thổi lửa, bác Xẩm lại trải chiếu, đặt thau. Điệp khúc ấy cứ lặp đi lặp lại đơn điệu, buồn tẻ. Họ cũng lóe lên một chút hi vọng. Hi vọng là liều thuốc an thần cho những con người khốn khổ ấy. Nhất Linh cũng từng nói những người dân quê rất nghèo khổ tiền bạc nhưng rất giàu hi vọng hão “chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ”.

Hai đứa trẻ làm sao ý thức rõ rệt được cảnh tù đọng, buồn chán, bế tắc mà chúng đang sống cũng như về những khát vọng tinh thần mơ hồ của mình. Song với tâm hồn ngây thơ, nhạy cảm, cô bé Liên cảm nhận thấm thía tuy chỉ là vô thức hiện thực đó, khát vọng đó. Chính vì khao khát được thoát khỏi cảnh tù đọng mù tối ấy mà chị em Liên đêm đêm cố thức đợi chuyến tàu đi qua. Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua, một thế giới khác hẳn đối với Liên, khác hẳn cái vầng sáng của ngọn đèn chị Tí và ánh lửa bác Siêu.

“Hai đứa trẻ” của Thạch Lam không đi sâu miêu tả những xung đột xã hội, xung đột giai cấp. Ông cũng không để tâm miêu tả những bộ mặt gớm ghiếc của những kẻ bóc lột và khuôn mặt bi thảm của những kẻ bị áp bức, vì nói cho cũng Thạch Lam là một nhà văn lãng mạn. Ông phác họa bức tranh phố huyện nghèo, chân thật trong từng chi tiết và trong chiều sâu tinh thần của nó. Bức tranh làng quê mù xám với những con người nhỏ nhoi đáng thương ấy thấm đẫm niềm cảm thương chân thành của tác giả đối với những người lao động nghèo khổ sống quẩn quanh bế tắc, tối tăm. Qua bức tranh ảm đạm của phố huyện và qua hình ảnh của những con người bé nhỏ với chút hi vọng le lói, ta thấy được mơ ước lớn của nhà văn là muốn thay đổi cuộc sống ngột ngạt đó cho những con người lao động nghèo khổ.

Phân tích tác phẩm Hai Đứa Trẻ của Thạch Lam – Bài làm 2

1. Phố huyện trong Hai đứa trẻ của Thạch Lam có "nguyên mẫu" từ phố huyện Cẩm Giàng, nơi tuổi thơ ông sống, gắn bó với những người thân trong gia đình, trong dòng họ và trong cộng đồng làng phố của ông, nghĩa là một hình ảnh mang vốn sống rất riêng tư. Đã vậy, chuyện mà nhà văn kể với ta cũng không phải chuyên gì đặc biệt, chỉ là những sinh hoạt thường ngày về một chiều, một đêm nơi ấy: Hai đứa trẻ, một chị một em, theo lời mẹ dặn, trông coi một gian hàng tạp hoá bé xíu, lời lãi chẳng bao nhiêu, nhưng ngày nào cũng ngồi chờ chuyến tàu đêm khởi hành từ Hà Nội đi qua rồi mới đóng cửa hàng đi ngủ. Trong lúc chờ tàu, hai chị em cô bé ngắm nhìn, lắng nghe quang cảnh, nhịp điệu phố huyện diễn ra trước mắt, từ lúc hoàng hôn cho đến tận đêm khuya. Chuyện chỉ có thế mà sao ai đọc cũng cảm thấy lòng mình xao xuyến bâng khuâng, cảm thấy tâm hồn mình thật sự lay động và như là bị những dòng chữ của ông quyến rũ, mê hoặc?

Sức lay động của Hai đứa trẻ chủ yếu xuất phát từ bức tranh phố huyện, từ chính sự rung động rất thực của tâm hồn nhà văn, hay từ cách viết rất giản dị, trong sáng mà giàu sức dụ dẫn, khơi gợi ? Từ cả hai, và từ sự hoà kết nhuần nhị, tự nhiên giữa các yếu tố này.

Những rung động sâu xa, tinh tế trong tâm hồn hai đứa trẻ, cũng chính là những rung động rất thực của Thạch Lam, nhà văn có tâm hồn nhạy cảm đến độ có thê’ lắng nghe được từng rung động khẽ như cánh bướm non trong lòng nhân vật, có thể cảm nhận được sắc điệu của ánh trăng.

Thạch Lam lắng nghe, ngắm nhìn phố huyện, cảm nhận rõ rệt đến từng chi tiết và ghi lại được tất cả : tiếng trống thu không đang "gọi" buổi chiều ; cảm giác "êm như ru" của chiều quê, cảm giác "êm như nhung" của đêm hè phố huyện ; bước đi chầm chậm của thời gian ; con đường làng với độ lấp lánh của cát hay độ mấp mô của đá khi có cả ánh sáng lẫn bóng tối soi vào ; mùi vị của đất quê, cái náo nức chốc lát của phố huyện khi có chuyến tàu đi qua, hay cái tịch mịch của phố xá khi mọi hoạt động của ban ngày lắng xuống và chìm vào giấc ngủ "mênh mông và yên lặng",… Tất cả như đều lắng đọng vào trang văn của ông. Hơn thế, Thạch Lam còn lắng nghe và ghi lại rất thực cả những cảm giác mong manh, mơ hồ nhất của tâm hồn những đứa trẻ trước bấy nhiêu sự vang động trong từng bước đi của thời gian.

2. Nghệ thuật viết truyện, thực chất là nghệ thuật kể chuyên, cũng giống như nghệ thuật tạo một "cuộc chơi". Theo đó, cái khó của viết truyện là mời gọi, dẫn dắt người đọc, kéo họ tham dự vào "cuộc chơi" ấy của mình. Tất nhiên, với những truyện có tình huống éo le, sự kiện gay cấn, nghệ thuật dẫn dắt không cần phải đặc biệt lắm. Nhưng có những truyện, nhất là truyện "không có chuyện", rõ ràng phải trông chờ rất nhiều váo cách dẫn dắt của tác giả. Hai đứa trẻ của Thạch Lam thuộc trường hợp sau.

Làm sao để một truyện "không có chuyện", một truyện toàn những cảm giác, cảm tưởng rất tinh vi nhưng rất nhỏ ấy quyến rũ, mê hoặc được người đọc ? Ở đây, vai trò tết dệt, dẫn dắt của người viết, người kể quả là rất lớn. Vậy, bằng cách nào dể Thạch Lam dệt những cảm giác, cảm tưởng, những rung động mong manh, mơ hồ kia thành truyện ? Bằng cách nào Thạch Lam dẫn người đọc tham gia vào cuộc chơi của ông ?

Điều cực kì quan trọng là phải tìm kiếm được một ô cửa, một hành lang tiện dụng nhất để dẫn người đọc vào thế giới phố huyện, chuẩn bị cho họ một tâm thức thích hợp để lắng nghe, ngắm nhìn phố huyện cùng với nhân vật của ông. Ô cửa ấy là đây : nhìn bức tranh phố huyện qua cái nhìn của Liên, nhân vật chính. Và hành lang ấy là đây : dẫn dắt tâm trạng theo nhịp bước thời gian.
Trong tâm hồn, kí ức của mình, hình như mỗi chúng ta đều lưu giữ biết bao nhiêu kỉ niệm tuổi ấu thơ. Cho dù quãng đời ấy mới vừa trôi qua hay thành dĩ vãng đã lâu rồi thì nó vẫn dầy tiềm năng sống. Chỉ cần một vài tín hiệu gợi nhắc nào đó là nó lại loé lên. Trong mỗi người chúng ta đều có một đứa trẻ của tuổi xưa mà ta dù đã giã từ, nhưng khi có dịp, hay được ai đó gợi nhắc, đứa trẻ ấy dễ dàng thức dậy, lại hồn nhiên náo nức trong ta. Chọn đúng góc nhìn của cô bé Liên và nương theo diễn biến tâm trạng của cô, là một cách lặng lẽ và tự nhiên nhất, Thạch Lam chậm rãi, nhẹ nhàng đánh thức kí ức tuổi thơ trong tâm hồn người đọc, chủ động và thoải mái dẫn dụ người đọc vào cuộc chơi của ông. Khó khăn đáng kể nhất coi như đã được khắc phục, nhà văn chỉ việc ung dung mà tả và kể.

Theo sự dẫn dắt của ông, người đọc tham dự vào cuộc chơi nơi phố huyện bằng những phiêu lưu "trí nghĩ", và những ấn tượng, cảm giác của "hai đứa trẻ", nhân vật chính. Những cảm giác, cảm tưởng ấy, có thể lan man, non nớt, mơ hồ, đầy vẻ mong manh. Nhưng bù lại, chúng sẽ hết sức tươi mới, tinh nhạy, tỉ mỉ và mang đầy những hứa hẹn của một cuộc phiêu lưu thám hiểm, khám phá thú vị.
Trong bức tranh phố huyện dệt bằng cảm giác như vậy, mọi thứ hiện lên vừa rõ nét vừa mơ hồ.

Những cảm tướng, cảm giác này được thể hiện bằng một lối đặt câu công khai nhấn mạnh tính mơ hồ trong ý nghĩ của nhân vật, gắn với các cụm từ "không hiểu", "khồng biết đến", "không rõ rệt gì", "mong đợi một cái gì",… Chẳng hạn : Liên "không hiểu sao", Liên "thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không biết đến", "kỉ niệm còn nhớ lại không rõ rệt gì", "Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ" ; "Tâm hồn Liên yên tĩnh hẳn, có những cảm giác mơ hồ không hiểu.") ; …

Có khi ông dùng lối đặt câu công khai nhấn mạnh vào tính nửa vời, lơ lửng của trạng thái, sự việc : Liên và An đang tính tiền hàng nửa chừng thì "Thôi, để mai tính một thể." đang ngắm nhìn "vũ trụ thăm thẳm bao la" thì "chỉ một lát hai chị em lại cúi nhìn về mặt đất" ; vừa loé lên một ý niệm triết lí (rằng mình là ai, đang sống ở đâu) thì ngay sau đó "Liên không nghĩ được lâu, mắt chị nặng dần, rồi sau Liên ngập vào giấc ngủ yên tĩnh…".

Cũng có khi ông dùng đến sức mạnh liên tưởng cảm giác, kiểu như : "hơi nóng của ban ngày lẫn mùi cát bụi quen thuộc quá, khiến chị em Liên tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này".

Âm hưởng, nhịp điệu của những câu văn như thế vọng vào tâm hồn người đọc thật nhiều bâng khuâng man mác.

Một chiều như mọi chiều, bức tranh phố huyện tự nó phô bày ra bao nhiêu hình ảnh buồn bã đập vào nhãn quan non nớt của hai đứa trẻ : mặt trời là mặt trời tàn "như hòn than sắp tàn", chợ là phiên chợ vãn (chợ đã vãn từ lâu), cái chõng chị em Liên ngồi là cái chõng nát (cái chõng này "sắp gãy rồi", đã đến lúc "mua cái khác thay vào").

Theo cái nhìn của chị em Liên, người đọc còn thấy những gì ? Kia là mấy đứa trẻ con nhà nghèo lom khom "nhặt nhạnh" trên bãi chợ rác rưởi ; đây, một cụ bà nghiện rượu cất tiếng "cười khanh khách", và chân lảo đảo bước lẫn vào đêm. Kia là cái bóng "mênh mang ngã xuống đất một vùng và kéo dài tận hàng rào hai bên ngõ" của bác phở Siêu ; đây là cái cử chỉ "phe phẩy cành chuối khô đuổi ruổi bò trên mấy thức hàng" của chị Tí, là hành vi "góp chuyện bằng mấy tiếng đàn bầu bật trong yên lặng" của vợ chồng bác xẩm có đứa con trong cát bẩn bò lê trong lúc chờ tàu đến. Người dân nghèo bán hàng vặt phố huyện bồn chồn chờ khách mà "người cứ vắng mãi"!

Cũng theo cảm giác, cảm tưởng của hai đứa trẻ, người đọc ngắm nhìn và cảm nhận sắc độ của bóng tối và ánh sáng với những buồn vui thường nhật.

Bóng tối phố huyện thật mênh mông, nhưng rõ ràng có sắc độ khác nhau : "Tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng sẫm đen hơn nữa". Ánh sáng phát ra từ những ngọn đèn lại càng nhiều hình thù, sắc độ bất ngờ : khe súng, vệt súng, quầng sáng, chấm sáng, hột sáng,… Như những ánh diêm của cô bé trong truyện cổ tích An-đéc-xen, những khe, vệt, quầng, chấm, hột,… ánh sáng như thế thỉnh thoảng loé lên, điểm vào bức tranh mênh mông buồn những chấm vui le lói. Cùng Thạch Lam, nhập vào hành trình cảm giác của hai đứa trẻ, từ chiếc chõng tồi tàn chìm khuất trong bóng tối dưới gốc bàng nơi sân ga, người đọc, khi thì ngước lên bầu trời xa, ngắm nhìn từng ánh sao ; lúc lại trở về với mặt đất, chăm chú dõi mắt vào những đốm lửa xung quanh. Mỗi lần hai đứa trẻ gặp một đốm sáng, đời sống nội tâm của chúng lại bừng lên, một ánh vui nhỏ bé chiếu rọi vào. Những lúc ấy, nhà văn và người đọc như reo lên cùng nhân vật : Kìa, hàng phở của bác Siêu đến kia rồi.", Đèn ghi đã ra kia rồi.", Dậy đi An. Tàu đến rồi.",…

Có thể trên bầu trời cao xa "ngàn sao lấp lánh" kia còn có biết bao thứ ánh sáng kì thú, huyền ảo của thiên nhiên, vạn vật. Nhưng với chị em Liên, sáng nhất, đẹp nhất, xao xuyến, nao nức nhất mỗi đêm, vẫn là hình ảnh đoàn tàu : "Tiếng còi đã rít lên, và tàu rầm rộ đi tới. Liên dắt em dứng dậy để nhìn đoàn xe vụt qua, các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường. Liên chỉ thoáng trông thấy những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kén lấp lánh, và các cửa kính sáng. Rồi chiếc tàu đi vào đêm tối, để lại những đốm than đó bay tung trên đường sắt. Hai chị em còn nhìn theo cái chấm nhỏ của chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng, xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre".

Khoảnh khắc ngắn ngủi quá. Đoàn tàu đã khuất bóng. Nhưng dư ảnh, dư âm của nó vẫn lung linh trong tâm tưởng. Dư ảnh, dư âm ấy như một thứ ánh sáng soi vào thực tại, định vị thân phận cho con người nhỏ nhoi noi ga xép, phố huyện quẩn quanh và tăm tối : "Liên lặng theo mơ tưởng. Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực, vui vẻ và huyên náo. Con tàu như đã dem một chút thế giới khác đi qua. Một thế giới khác hẳn, đối với Liên, khác hẳn cái vầng sáng ngọn đèn của chị Tí và ánh lửa của bác Siêu."

Theo trình tự thời gian, truyện Hai đứa trẻ được bố cục thành ba cảnh : phố huyện lúc chiều xuống, phố huyện lúc đêm về, phố huyện lúc đoàn tàu đêm đi qua. Cảnh quan trọng nhất là cảnh cuối (chứa đựng hình ảnh sáng, vui, nhộn nhịp, được chờ đợi nhiều nhất) thì lại được miêu tả ngắn nhất. Điều này rất ăn nhịp với cảm giác về nhịp điệu thời gian : với tâm trạng chờ đợi khắc khoải, thời gian trở nên như chậm rãi hơn ; với cái nhìn đắm say và tám trạng khao khát, tiếc nuối, thời gian trôi di gấp gáp hơn.

Thế giới đã được dệt nên bởi cảm giác, thì giọng, điệu, lời, câu, chữ cũng thấm nhuần những cảm giác, cảm tướng ấy. Câu văn của Thạch Lam, từng lúc, từng lúc lại vang vọng lên nhịp bước của thời gian : "Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào…", Trời đã bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát…".

Trong tấm thảm chiều, đêm phố huyện dệt nên bằng cảm giác, từng con chữ của Thạch Lam như những nốt nhạc, những chấm sáng, thỉnh thoảng chúng lại ánh lên bao vẻ đẹp kín đáo, rất có hồn : Trống thu không "từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều", "vòm trời hàng ngàn ngôi sao ganh nhau lấp lánh", "trống cầm canh ở huyện đánh tung lên một tiếng ngắn khô khan", "Người vắng mãi.",…
Chẳng hạn, một chữ mãi trong câu : "Người vắng mãi" ẩn bao nhiêu ngụ ý. Người kể chuyện nhập vào tâm trạng nhân vật mà thốt lên câu này vẻ như than thở, như hờn trách, vẻ như khắc khoải đợi chờ : đợi chờ khách, đợi chờ người, chờ sự sống, chờ sự nhộn nhịp, đông vui.

3. Hai đứa trẻ là bức tranh phố huyện dệt bằng cảm giác. Nhưng phải nói thêm rằng : Cảm giác ấy là những gì đã được trải nghiệm, cảm giác gắn với kí ức tuổi thơ. Tác phẩm phảng phất chất tự truyện, ở đó, phố huyện cẩm Giang, chị em Thạch Lam gần như là những nguyên mẫu cho phố huyện và chị em Liên trong truyện ngắn này. Bởi vậy, sức lay động tâm hồn người đọc ở đây, cũng có thể nói là sức lay động của những dòng kí ức cảm động tinh cất từ tuổi thơ ông. Trong những dòng kí ức ấy, tất nhiên, không thể không chú ý đặc biệt đến hình ảnh đoàn tàu và vẻ hoa lộ của Hà Nội "băm sáu phố phường".

Nếu như tuổi thơ Thạch Lam đã có không biết bao nhiêu đêm ngắm nhìn đoàn tàu đi qua ga xép, thì cũng đã có không biết bao nhiêu đêm từ ga xép ấy, ông mơ về Hà Nội phồn hoa. Nhà văn đã lấy chính lòng đam mê, khao khát ánh sáng, niềm vui, cùng cuộc sống tốt đẹp của mình mà hiểu và nói thay cho những đứa trẻ. Cái "thế giới khác" mà chị em Liên hằng đêm mơ tưởng, tất nhiên là thế giới tưởng tượng, nhưng nó được lấy nguyên mẫu từ Hà Nội, hay chính xác hơn từ kí ức, ấn tượng tuổi thơ của Thạch Lam về Hà Nội.
Phải chăng đó là lí do khiến nhà văn để cho nhân vật Liên trong truyện, nhiêu lần nhớ, nghĩ, mơ về Hà Nội. Từ mùi phở thơm của bác Siêu, Liên nao nức nhớ về "một vùng sáng rực và lấp lánh", và "Hà Nội nhiều đèn quá". Từ hình ảnh đoàn tàu Liên lại "lặng theo mơ tưởng" : "Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo…".

Bức tranh phố huyện là bức tranh dệt nên bởi những cảm giác rất tương phản về ánh sáng và bóng tối. Ở một cấp độ khác, cũng có thể nói, nó được dệt nên bởi những cảm giác tương phản gay gắt về thế giới phố huyện và "thế giới khác". Hiện thân đầy đủ cho cuộc sống nơi phố huyện là thứ ánh sáng leo lét toả ra từ ngọn đèn chị Tí, ánh lửa bác Siêu, "chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ". Hiện thân cho cuộc sống vui tươi, tốt đẹp là hình ảnh đoàn tàu chở ánh sáng niềm vui náo động từ Hà Nội vé. Niềm vui đến, niềm vui đi : chốc lát. Lại càng buồn nhớ, khao khát.

Không hẹn mà gặp, Thạch Lam viết truyện ngắn Hai đứa trẻ vào cái thời mà sau, trước không lâu, Xuân Diêu viết Toả nhị Kiều, Vội vàng, Giục giã, Nam Cao viết Đời thừa, Sống mòn.

Vào cái thời ấy, chẳng hay khi tỉ mẩn "ngắt câu bằng màu, chấm câu bằng nốt nhạc, chuyển đoạn bằng hình ảnh", dệt nên bức tranh phố huyện bằng cảm giác của tâm hồn trẻ thơ như vậy, Thạch Lam có nhớ đến không mấy dòng thơ sau trong bài Giục giã của thi sĩ Xuân Diệu :

Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm?

Phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam – Bài làm 3

1. Đặc điểm về nội dung.

a) Bức tranh về đời sống tối tăm, mòn mỏi nơi phố huyện.

Sáng tác của Thạch Lam không thu hút người đọc bằng sự vận động đầy căng thẳng và bất ngờ của cốt chuyện mà bằng những chi tiết giàu chất tạo hình và giàu sức gợi do nhà văn có một sở trường đặc biệt trong quan sát và lắng nghe những vận động âm thầm của tạo vật trong không gian và thời gian.

Truyện khởi đầu bằng những câu văn miêu tả tiếng trống thu không trên chòi canh của huyện nhỏ với những âm rền thong thả, chậm ra "từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều". Dù là phố huyện nhưng cách đo thời gian nơi đây có vẻ vẫn theo lối cổ xưa, điểm bước đi của thời gian và sinh hoạt của một vùng bằng tiếng trống. Nét đặc biệt ấy gợi ý thức về thời gian giúp tác giả dẫn người đọc theo dõi cảnh quay chi tiết hình ảnh một buổi chiều tàn với những nét rực rỡ :"Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn. Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời". Cả mặt trời lúc sắp xuống núi lẫn những đám mây từ phía chân trời đều như đang bốc cháy lần cuối trước khi từ giã ban ngày, nhường chỗ cho những cảnh tượng dãy tre làng (như thể đã bị đốt cháy) đen lại, cắt hình rõ rệt trên nền trời. Ngòi bút của tác giả thực sự trở nên linh hoạt và sống động khi miêu tả sự vận động của thời gian qua những diễn biến của cảnh vật. Lúc đầu là cảnh "nhá nhem tối" khi ánh sáng và bóng tối đan xen qua hình ảnh "những hòn đá nhỏ một bên sáng một bên tối", "Tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng sẫm đen hơn nữa". Cuối cùng là cảnh đêm về thực sự :"tịch mịch và đầy bóng tối".

Nếu để ý, ta sẽ thấy ngòi bút miêu tả của nhà văn đi từ đại cảnh đến tiểu cảnh. Thoạt đầu là cảnh bầu trời, những đám mây, sau đó là lũy tre làng rồi ghé xuống quán nhỏ của chị em Liên, cuối cùng đậu trên chiếc đèn con leo lét của chị Tý. Nhưng đấy chỉ là cảnh nền, cảnh thực của phố huyện được nhà văn đặc tả tỉ mỉ. Đây là hình ảnh phiên chợ đã tàn :"Chợ họp giữa phố vãn từ lâu. Người về hết và tiếng ồn ào cũng mất. Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía. Một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn với mùi cát bụi quen thuộc quá, khiến chị em Liên tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này".

Cách miêu tả tỉ mỉ với lối quay cận cảnh nên từ hạt cát, hòn đá, đến vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn, lá mía,.. đều đi vào tầm quan sát, đánh thức những xúc động âm thầm rồi chuyển cảm giác sang các mùi vị gợi nhớ, gợi liên tưởng : mùi cát bụi, mùi đất, mùi của quê hương… Phố huyện về đêm từ từ mở ra với những điểm sáng lác đác ở nhà phở Mỹ, nhà ông Cửu, ở hiệu khách…. như thể tác giả có nhã ý dùng thứ ánh sáng đó để vén bức màn làm hiện ra một thứ sân khấu đặc biệt cho ta dừng lại với những mẩu đời gợi nhiều xót thương. Đó là hình ảnh chị Tý tối nào cũng dọn hàng nhưng tối nào cũng vang lên lời than vì ế ẩm "giờ muộn thế này mà họ chưa ra nhỉ"; là quán phở gách của bác Siêu, tuy vốn liếng có khá hơn nhưng cũng bởi thế mà mưu sinh bấp bênh hơn, vì ở nơi nghèo khổ này phở bị coi là "thứ quà xa xỉ" ; là cảnh lê la xó chợ đầu đường của gia đình bác xẩm bao lần dạo đàn mời khách đến mức "run bần bật" mà kết cục là không khách, không hát và không tiền ; là hình ảnh bà cụ Thi hơi điên với tiếng cười khanh khách vang trong đêm tối gợi cái kết cục đáng buồn cho những kiếp người phố huyện : người nguyên vẹn nhưng đời đã tàn lụi. Tất cả những phận người đó đại diện cho lớp cư dân khốn khổ, đáng thương nhất ở phố huyện, họ hiện ra trong chốc lại rồi khi đêm dần đi vào chiều sâu thì thứ ánh sáng nói trên cũng dần khép lại, thu nhỏ đi, tàn lụi dần, leo lét bên những thân phận nhỏ nhoi, xoay quanh ngọn đèn của chị Tý, bếp lửa của bác Siêu, manh chiếu rách của cả gia đình bác xẩm và ngọn đèn con của chị em Liên…. như để nhường chỗ cho những xót xa, ngậm ngùi mỗi lúc một dâng lên trong lòng người đọc.

Tuy nhiên, tác giả không dừng lại ở đó. Bao trùm lên những đốm sáng nhỏ nhoi ở cái phố huyện nghèo vào đêm ấy là cả một "Vòm trời hàng ngàn ngôi sao ganh nhau lấp lánh, lẫn với vệt sáng của những con đom đóm bay là là trên mặt đất hay len vào những cành cây".

Nếu so sánh với đoạn văn mở đầu truyện ngắn, ta lại thấy ống kính miêu tả của nhà văn lia theo hướng ngược lại từ tiểu cảnh mở ra đại cảnh, từ vi mô mở ra vĩ mô. Nhưng ấn tượng ám ảnh tâm trí lại là sự tương phản với cái vũ trụ bao la  đầy những ánh sáng huyền ảo của thiên nhiên và vạn vật với những kiếp người nghèo khổ, sống trong mòn mỏi của sự quanh quẩn, vô nghĩa họ ngồi trong bóng tối, thầm đợi chờ một điều gì tươi sáng đến cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ mà không thực sự biết đó là điều gì. 

b) Niềm khao khát một thế giới tươi sáng và hạnh phúc.

Trong sáng tác của Thạch Lam, không chỉ nhà văn mới bộc lộ cái sở trường lắng nghe và cảm nhận được bao chuyển động và biến đổi của âm thanh, màu sắc và hương thơm, nhân vật của ông, nhiều người cũng mang phẩm chất đó. Điều đáng chú ý là ở chỗ bởi họ biết lắng nghe và cảm nhận nên cuộc sống bên ngoài thường dội vào tâm hồn họ gây nên bao biến động bất ngờ. Nhân vật Liên trong tác phẩm cũng vậy. Tâm trạng bao trùm trong tâm hồn của cô bé Liên là nỗi buồn man mác, thấm thía chuyển hóa thành khát vọng đổi đời mơ hồ được diễn tả qua ba chặng thời gian : khi hoàng hôn xuống, khi đêm về và lúc con tàu qua. 

Đây là tâm trạng liên trước cảnh chiều tàn nơi huyện lị buồn tẻ, khi nghe tiếng trống thu không rời rạc "từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều" cùng tiếng ếch nhái "kêu ran ngoài đồng ruộng" như một bản hòa âm thôn dã gợi bao bâng khuâng trong lòng cô bé ngụ cư. Cảnh chiều tàn gieo vào lòng cô gái mới lớn, không quen cuộc sống tù túng nỗi buồn man mác, gửi vào tiếng thở dài kín đáo :" Chiều, chiều rồi…". Nỗi buồn phản qua đôi mắt trong trẻo hồn nhiên giờ đây bị bóng tối ngập đầy trở nên già nua, suy tư và thấm vào nội tâm: "cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị".

Liên ngắm cảnh phố huyện vào đêm như thể trong vô thức cô muốn xóa đi cái tâm trạng buồn xâm chiếm tâm hồn mình lúc hoàng hôn về. Nhưng cảnh những đứa trẻ lúi húi nhặt nhạnh, bòn mót những gì còn sót lại, vương vãi trên đất lại làm Liên buồn hơn và "thấy động lòng thương nhưng chính chị cũng không có tiền để mà cho chúng nó".

Cảnh cư dân kiếm sống ban đêm với những bụi đời lam lũ, tủi cực mới thật sự tác động mạnh vào tâm hồn đa cảm của cô bé. Trong lặng lẽ Liên cảm thông với cảnh ế ẩm của chị Tý, bác Siêu, bác xẩm và ái ngại cho mẩu đời tàn trong cô độc của bà cụ Thi…

Bị giam cầm vào bóng tối và bị ám ảnh bởi cuộc sống buồn tẻ, lầm lũi, vô vọng của những người dân nơi phố huyện, Liên nhớ về cuộc sống tươi đẹp trong quá khứ ở Hà Nội, như thể một phản kháng hồn nhiên của tuổi thơ.

Nhìn phở bác Siêu, "thứ quà xa xỉ, nhiều tiền, hai chị em không bao giờ mua được", Liên nhớ thời "mẹ Liên nhiều tiền – được đi chơi Bờ Hồ uống những cốc nước lạnh xanh đỏ". Hoài niệm đánh thức trong Liên những ngậm ngùi tiếc nuối : Khi Hà Nội thì " nhiều đèn quá" còn hiện tại hai chị em phải chung sống "bóng tối". Hoài niệm không chỉ kích thích quá khứ sống dậy mà còn nhen nhóm bao khát vọng âm thầm về ngày mai, dẫu chỉ là một ngày mai mơ hồ. Đó là lí do vì sao dù buồn ngủ đến díp cả mắt nhưng hai đứa trẻ vẫn cố thức để đợi ngắm con tàu qua.

Chị em Liên cố thức để đợi chuyến tàu không phải để bán hàng theo lời mẹ dặn mà để kiếm một khoảnh khắc vui dù là vui ghé, vui lây trong hiện tại mòn mỏi, vô nghĩa. 

Khi con tàu rầm rộ đi tới, Liên dắt em đứng dậy để nhìn đoàn tàu vụt qua. Dù chỉ trong chốc lát nhưng hình ảnh "các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường. Liên chỉ thoáng trông thấy những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng" thì đọng lại mãi.

Đứng lặng ngắm con tàu qua, Liên không trả lời câu hỏi của em, trong tâm hồn cô, cơn xúc động vẫn chưa lắng xuống "Liên lặng theo mơ tưởng. Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo". Có thể trong phút ấy, khát vọng đổi đời đã được đánh thức :"Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua. Một thế giới khác hẳn đối với Liên, khác hẳn cái vầng sáng ngọn đèn của chị Tý, và ánh lửa của bác Siêu". Chữ khác điệp ba lần để diễn tả niềm khao khát âm thầm mà mãnh liệt.

2. Đặc sắc nghệ thuật.

Có người nhận xét : Thạch Lam là một nghệ sĩ tài hoa. trong ông có một họa sĩ, một nhạc sĩ và một nhà thơ. Ông đã ngắt câu bằng màu, chấm câu bằng nốt nhạc và chuyển đoạn bằng hình ảnh. Đó là một nhận xét tinh tế. Truyện ngắn Hai đứa trẻ hội tụ những phẩm chất đặc biệt của tâm hồn tài hoa đó.

a) Nghệ thuật đối lập.

Câu chuyện về hai đứa trẻ nghèo đêm đêm ngủ lại quán nhỏ trông hàng cho mẹ ngồi trên chõng ngắm phố vào đêm, qua ánh sáng những đốm lửa chúng quan sát những đứa trẻ nghèo khác đi nhặt nhạnh vật thừa thãi sau phiên chợ tàn, những kiếp người kiếm ăn lam lũ và đặc biệt, khi con tàu từ Hà Nội về chạy qua hắt ánh sáng rực rỡ xuống phố huyện nghèo thì tâm hồn hai đứa trẻ xao động thật sự, chúng bồi hồi nhớ tiếp những kỉ niệm ngọt ngào của một thời ấu thơ. Nếu chỉ thế thôi, truyện ngắn Hai đứa trẻ sẽ khó để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng bao thế hệ người đọc. Cũng như trong một truyện ngắn của An-đéc-xen, Thạch Lam khá dụng công trong việc tạo dựng hai mảng màu sáng – tối (cũng có thể nói : diễn biến của chuyển chủ yếu dựa trên nền của sự tương phản giữa ánh sáng và bóng tối) để mỗi lúc đốm lửa bùng lên, bóng tối dạt đi, người đọc lại có cơ hội quan sát một cảnh tượng trong bức tranh đời sống nơi phố huyện hay một góc tâm tư của hai đứa trẻ. Bút pháp tinh tế đó khiến cho ánh sáng của những ngọn đèn trên phố, của bầu trời hư ảo trên cao, của con tàu từ Hà Nội mang một chức năng kép : vừa soi rạng cho ta tận mắt chứng kiến bao kiếp người nghèo khổ, lầm lũi kiếm ăn trong mòn mỏi, vô vọng vừa soi rạng tâm hồn hai đứa trẻ cho ta thấy bao khát vọng mơ hồ trong những tâm hồn trẻ thơ.

b) Kết cấu vòng tròn như cấu tứ một bài thơ.

Nhìn từ phương diện kết cấu, truyện ngắn Hai đứa trẻ được tổ chức tựa như một bài thơ. Bóng tối có mặt ở đầu truyện, thân truyện và cuối truyện. Bóng tối đeo bám dai dẳng gợi liên tưởng và suy ngẫm đến từng số phận : Chị Tí, bác Siêu, bác xẩm và cả bé Liên.

c) Âm điệu của tác phẩm.

Theo lời kể của bà Nguyễn Thị Thế, chị gái của nhà văn Thạch Lam, truyện ngắn Hai đứa trẻ là câu truyện có thật về quãng thời gian hai chị em sống với mẹ ở Cẩm Giàng, Hải Dương. Tác phẩm, vì thế, còn phảng phất một tự truyện. Đây cũng có thể là lí do khiến câu văn của thiên truyện trở nên mềm mại, trong sáng, bình dị, mang âm điệu du dương phù hợp với tâm hồn êm dịu, sâu lắng, trong sáng và tế nhị chứa nỗi buồn man mác của nhân vật chính trong truyện và cũng là tác giả khi hồi cố tuổi thơ của chính mình.

Phân tích truyện ngắn" Hai đứa trẻ" của Thạch Lam – Bài làm 4

Thạch Lam được coi là nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn 1930­1945. Đặc biệt về truyện ngắn“Hai đứa trẻ” được coi là truyện ngắn trữ tình xuất sắc. Tác phẩm được in trong tập “Nắng trong vườn”, xuất bản 1938. Tiêu biểu cho phong cách Thạch Lam: nhẹ nhàng mà sâu lắng, giản dị mà tinh tế.

Chủ đề của truyện là cuộc sống mòn mỏi của những người dân phố huyện nghèo trong xã hội thực dân nửa phong kiến đương thời. Viết về cái nghèo, cái khổ nhưng Thạch Lam không “đao to búa lớn”, thu hút người đọc vào những cốt truyện mang kịch tính cao; hay dẫn dắt người đọc đến số phận bi thương quằn quại như một số tác giả hiện thực cùng thời.

Cũng là sự bi thương của kiếp người nô lệ nhưng ông lại mang đến cho người đọc một cảm xúc khác : cảm xúc bị ám ảnh bởi sự mòn mỏi được viết với một giọng văn dào dạt chất thơ. Không gian nghệ thuật của truyện là không gian “ngày tàn” và “đêm tối” : “Phương Tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh lên như hòn than sắp tàn’’ ; “Đường phố và các ngã chứa đầy bóng tối”. Những nhân vật của truyện ngụp lặn “trong cái ao đời bằng phẳng đó’’(Nguyễn Tuân). Những người dân ở phố huyện nghèo này dù không buôn bán được gì nhưng tối nào họ cũng dọn hàng: chị Tí quảy toàn bộ gia sản ít ỏi của mình trên hai tay (cái chõng tre và ấm nước). Bác phở Siêu kĩu kịt gánh đi rồi lại kĩu kịt gánh về. Chị em Liên An ­ nhân vật chính của truyện tối nào cũng mở cửa dọn hàng… Dưới ngòi bút của Thạch Lam dường như cuộc sống đói nghèo, buôn bán ế ẩm, họ dọn hàng không chỉ để bán mà để có cớ mà chờ đợi? Họ đợi gì? Họ đợi chuyến tàu đêm băng qua phố huyện lúc nửa đêm.Bác phở Siêu thì “nghển cổ nhìn ra phía ga’’còn chị em Liên An thì đã buồn ngủ ríu mắt “vẫn gượng thức khuya chút nữa’’ Chuyến tàu đêm ấy mang đến cho họ ánh sáng chói lòa của chốn phồn hoa đô hội, ấy là thứ ánh sáng của quê hương họ khi cuộc sống của họ chưa sa sút, chưa phải phiêu dạt về chốn này để kiếm sống lắt lay “chừng ấy người trong bóng tối chờ đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hàng ngày…”. Phải chăng họ đang chờ đợi một lối thoát? Một lối thoát không phải trong thực tế mà trong tưởng tượng. Bởi vì con tàu đi qua đem theo nó một thế giới khác hẳn với thế giới phố huyện tối tăm, một thế giới sáng rực, huyên náo và vui vẻ, sang trọng. Đó chính là thế giới mà họ hằng mơ tưởng. Ánh sáng ấy vụt qua phố huyện như một tia chớp để rồi mọi người lại trở về với thực tại tối tăm. Thế nhưng chị em Liên An vẫn dõi theo “cái chấm nhỏ xanh” bé xíu của bóng đèn tín hiệu ở toa sau cùng cho đến khi nó mất hút sau lũy tre làng. Ánh sáng chói lòa vụt đi qua nhưng “cái chấm nhỏ xanh” thì đọng lại trong đôi mắt của hai đứa trẻ. “Cái chấm nhỏ xanh” ấy như đối lập với thứ ánh sáng lay lắt của ngọn đèn nước chị Tí? Đối lập với “cái chấm nhỏ vàng” tàn lụi nơi gánh phở bác Siêu? Nó đối lập với cuộc sống mòn mỏi, quẩn quanh, lay lắt của những người dân phố huyện nói chung và hai đứa trẻ nói riêng. Và phải chăng vì thế mà chị em Liên An đêm nào cũng đợi, cũng dõi theo… “Cái chấm nhỏ xanh” ấy phải chăng là sự khát khao? Sự tiếc nuối? Phải chăng là niềm hi vọng mong manh ? và phải chăng nó cũng là biết bao ẩn dụ không thể diễn tả thành lời trong lòng người đọc mỗi khi đối diện với truyện ngắn “Hai đứa trẻ”? Nghệ thuật gợi cảm xúc của Thạch Lam tài tình và đặc sắc. Chỉ “một chấm nhỏ xanh” thôi, “một chấm nhỏ xanh” đọng lại trong đáy mắt đượm buồn của hai đứa trẻ nhưng để lại dư âm sâu lắng, giàu sức ngân vang…

Lời phát biểu của Thạch Lam bao giờ cũng thầm kín, dịu dàng nhưng thấm thía mãi trong lòng người đọc, ám ảnh tâm trí họ. Đó chính là tiếng nói xót thương với những kiếp người nhỏ bé cơ cực, quẩn quanh, bế tắc, không hạnh phúc, không tương lai trong xã hội đương thời. Chính vì thế mà “cái chấm xanh” bé nhỏ dai dẳng ấy đã làm cho ta day dứt…

Thu Thủy (Tổng hợp)

Phân tích truyện Hai đứa trẻ của Thạch Lam – Văn mẫu hay lớp 11
5 (100%) 1 đánh giá

Ứng dụng VĂN MẪU TỔNG HỢP trên điện thoại với hơn 30k bài văn mẫu hay nhất, giải bài tập SGK, soạn văn đầy đủ chi tiết. Hãy tải App ngay để chúng tôi phục vụ bạn tốt hơn nhé!

Nếu thấy bài viết hay, hãy động viên và chia sẻ ban biên tập! Các bình luận không phù hợp sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.

Loading...
LIKE ỦNG HỘ TÁC GIẢ